|
”Bối cảnh” cho học hỏi và
thực hành hy vọng
Cầu nguyện là trường học của
hy vọng
32. Bối cảnh thiết yếu đầu
tiên cho việc học hỏi hy
vọng là cầu nguyện. Khi
không c̣n ai lắng nghe tôi
nữa, Chúa vẫn nghe tôi. Khi
tôi không c̣n có thể tâm sự
hay kêu cầu được với ai, tôi
luôn luôn có thể thưa với
Chúa. Khi không c̣n ai giúp
tôi biết xử sự thế nào trước
nhu cầu hay mong đợi vượt
quá khả năng hy vọng của con
người, Chúa có thể giúp tôi
25. Dù tôi bị đắm
ch́m ngập lụt trong cô liêu
hoàn toàn...; nếu tôi cầu
nguyện th́ tôi không bao giờ
hoàn toàn đơn côi. Đức cố
Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, một
người tù trong 13 năm, trong
đó có 9 năm bị biệt giam, đă
để lại cho chúng ta cuốn
sách nhỏ quí giá: Những Lời
Cầu Nguyện của Niềm Hy Vọng.
Trong ṿng 13 năm tù đầy,
trong một t́nh trạng hầu như
là tuyệt vọng, sự kiện là
ngài có thể lắng nghe và
thân thưa với Chúa đă trở
nên một quyền năng hy vọng
gia tăng cho ngài, khiến
ngài, sau khi ra khỏi tù, đă
trở nên một chứng nhân hy
vọng cho dân chúng trên toàn
thế giới – chứng nhân của
một niềm hy vọng lớn lao
không tàn lụi ngay cả trong
những đêm đen của cô liêu.
33. Thánh Augustinô, trong
bài giảng về lá thư thứ nhất
của thánh Gioan, mô tả cách
tuyệt hảo nhất về mối tương
quan giữa cầu nguyện và hy
vọng. Ngài định nghĩa cầu
nguyện là một thao tác của
ḷng muốn. Con người đă được
tạo dựng cho sự cao cả—cho
chính Thiên Chúa; con người
đă được tạo dựng để được lấp
đầy bởi Thiên Chúa. Nhưng
tâm hồn con người th́ quá
nhỏ so với sự cao cả mà nó
đă được trù định trước. Nó
cần được nới rộng ra. “Khi
tŕ hoăn [ban ân huệ], Thiên
Chúa củng cố ḷng muốn của
chúng ta; qua ḷng muốn
Người nới rộng linh hồn
chúng ta và khi mở rộng,
Người gia tăng sức chứa của
nó [để đón nhận Người]”.
Thánh Augustinô quy chiếu về
thánh Phaolô, người đă nói
ḿnh ráng sức đạt tới những
điều sẽ đến (x. Pl 3,13).
Sau đó ngài đă sử dụng một
h́nh ảnh rất đẹp để mô tả
tiến tŕnh mở rộng và chuẩn
bị tâm hồn con người. “Giả
dụ Thiên Chúa muốn lấp đầy
tâm hồn bạn bằng mật ong
[một biểu tượng về sự dịu
dàng và ḷng tốt của Thiên
Chúa]; nhưng nếu ḷng bạn
đầy dấm chua, bạn đổ mật ong
vào nơi nào?” Cái b́nh, vốn
là tâm hồn chúng ta, trước
tiên phải được nới rộng và
sau đó rửa sạch, không c̣n
dấm và mùi vị của nó nữa.
Điều đó đ̣i phải làm việc
cật lực và gây đau đớn,
nhưng chỉ theo cách ấy thôi
mà chúng ta trở nên phù hợp
với điều mà chúng ta đă được
trù định trước. 26
Cho dù thánh Augustinô chỉ
nói trực tiếp đến khả năng
của chúng ta chứa đựng Thiên
Chúa, tuy vậy rơ ràng rằng
qua nỗ lực loại bỏ dấm chua
và mùi vị của nó, không
những chúng ta nên tự do đối
với Thiên Chúa, nhưng c̣n
rộng mở với người khác nữa.
Chính khi trở nên con cái
của Thiên Chúa, mà chúng ta
có thể ở với người Cha chung
của chúng ta. Cầu nguyện
không phải là đi ra khỏi
lịch sử và rút lui vào góc
hạnh phúc riêng của chúng
ta. Khi chúng ta cầu nguyện
cách đúng đắn chúng ta trải
qua một tiến tŕnh thanh
luyện bên trong, nó mở ḷng
chúng ta ra với Thiên Chúa
và theo cách đó cả với đồng
loại chúng ta nữa. Trong cầu
nguyện chúng ta phải biết
điều chúng ta có thể xin
Thiên Chúa—điều xứng đáng
với Thiên Chúa. Chúng ta
phải biết rằng chúng ta
không thể cầu nguyện chống
lại người khác. Chúng ta
phải biết rằng chúng ta
không thể cầu xin những điều
nông cạn và những tiện nghi
mà chúng ta muốn vào lúc
này— v́ niềm hy vọng nghèo
nàn, giả tạo dẫn chúng ta xa
ĺa Thiên Chúa. Chúng ta
phải biết thanh luyện ước
muốn và khát vọng của chúng
ta. Chúng ta phải biết tự
giải thoát khỏi những giả
dối ẩn khuất gây thất vọng
cho chúng ta. Thiên Chúa
thấy rơ chúng, và khi chúng
ta đến trước mặt Thiên Chúa,
chúng ta cũng bị bắt buộc
nhận ra chúng. Vịnh gia đă
cầu nguyện: “Nhưng nào ai
thấy rơ lầm lỗi ḿnh? Xin
Ngài tha các tội con phạm mà
chẳng hay” (Tv 19,12
[18,13]). Thất bại trong
việc nh́n nhận lầm lỗi của
ḿnh, ảo tưởng về sự vô tội
của ḿnh, không làm cho tôi
nên công chính và không cứu
thoát tôi, bởi v́ tôi đáng
khiển trách v́ lương tâm
nặng nề và không thể nhận ra
sự dữ như nó là trong con
người tôi. Nếu Thiên Chúa
không hiện hữu, có lẽ tôi
cần t́m nơi trú ẩn trong
những lọc lừa ấy, bởi v́
không ai có thể tha thứ cho
tôi; không ai là tiêu chuẩn
đích thực. Tuy nhiên sự gặp
gỡ với Thiên Chúa thức tỉnh
lương tâm của tôi, v́ nó
không c̣n nhắm đến sự công
chính hoá bản thân, không
c̣n là một suy nghĩ đơn
thuần của tôi và của những
người đương thời đang uốn
nắn suy nghĩ của tôi, nhưng
nó trở thành một khả năng
lắng nghe chính sự Thiện.
34. Để lời cầu nguyện phát
triển được sức mạnh thanh
tẩy, một đàng lời cầu nguyện
ấy phải là cái ǵ đó rất
riêng tư, là một cuộc gặp gỡ
giữa thâm sâu của chính tôi
với Chúa, Thiên Chúa hằng
sống. Đàng khác, lời cầu ấy
phải luôn được hướng dẫn và
soi sáng bởi những kinh
nguyện quư giá của Giáo Hội
và của các thánh, và bởi lời
cầu phụng vụ, trong đó Chúa
dạy đi dạy lại chúng ta làm
thế nào cầu nguyện cho xứng
hợp. Đức Hồng Y Nguyễn Văn
Thuận, trong quyển sách của
ngài về luyện đàng thiêng
liêng, nói với chúng ta rằng
trong cuộc đời ngài, có
những thời gian dài ngài đă
không thể cầu nguyện được và
ngài đă phải bám lấy những
kinh nguyện của Giáo Hội như
kinh Lậy Cha, kinh Kính Mừng
và các kinh nguyện phụng vụ
27. Cầu nguyện
phải luôn luôn có sự pha
trộn giữa lời cầu nguyện
chung và cá nhân. Đây là
cách thế chúng ta có thể
thân thưa với Chúa và Chúa
nói với chúng ta. Trong
đường lối này, chúng ta trải
qua những cuộc thanh tẩy,
qua đó, chúng ta mở ḷng
ḿnh ra cho Chúa và sẵn sàng
cho việc phục vụ đồng loại.
Chúng ta trở nên có khả năng
cho niềm hy vọng vĩ đại, và
do đó, trở thành các thừa
tác viên của niềm hy vọng
cho kẻ khác. Hy vọng trong ư
nghĩa Kitô giáo luôn luôn
cũng là niềm hy vọng cho
những người khác. Nó là niềm
hy vọng tích cực, trong đó
chúng ta chiến đấu hầu tránh
làm cho mọi sự đừng hướng
đến một “chung cuộc quái
ác”. Đó cũng là niềm hy vọng
tích cực theo nghĩa là chúng
ta giữ cho thế giới này mở
ḷng ra cho Thiên Chúa. Chỉ
trong đường lối ấy niềm hy
vọng này mới tiếp tục là
niềm hy vọng nhân bản đích
thật.
II. Hành động và đau khổ
như những môi trường để học
biết niềm hy vọng
35.
Mọi hành động nghiêm chỉnh
và đúng đắn của con người
đều là niềm hy vọng bằng
hành động. Trước tiên điều
đó có nghĩa là chúng ta nỗ
lực thực hiện các niềm hy
vọng của chúng ta, nhỏ bé
hay lớn lao hơn: hoàn thành
công việc này hoặc công việc
kia vốn quan trọng trong
cuộc hành tŕnh tiến lên của
chúng ta, hoặc chúng ta hành
động cho một thế giới tươi
đẹp và nhân bản hơn để mở
rộng cửa cho tương lai. Tuy
nhiên những nỗ lực hằng ngày
trong việc theo đuổi đời
sống chúng ta và trong việc
hành động cho tương lai của
thế giới làm chúng ta mệt
mỏi và biến thành cuồng tín,
trừ phi chúng ta được chiếu
sáng bởi vẻ huy hoàng của
niềm hy vọng lớn lao vốn
không thể bị huỷ diệt bởi
những thất bại trong những
việc nhỏ cũng như trong sự
sụp đổ của những vấn đề có
tầm quan trọng lịch sử. Nếu
chúng ta không thể hy vọng
hơn điều đạt được trong một
thời gian nhất định, hay hơn
điều được các nhà cầm quyền
chính trị và kinh tế hứa
hẹn, cuộc sống của chúng ta
sẽ chẳng mấy chốc không c̣n
hy vọng. điều quan trọng là
biết rằng tôi luôn có thể
tiếp tục hy vọng, dù cho
trong đời sống chúng ta hay
giai đoạn lịch sử mà tôi
sống, dường như không có
điều ǵ để hy vọng. Chỉ với
niềm xác tín lớn lao của
niềm hy vọng mà đời tôi và
lịch sử nói chung, dù gặp
bao thất bại, mới được cầm
giữ bởi sức mạnh không thể
huỷ diệt của T́nh yêu, và
chỉ có niềm xác tín lớn lao
đó mới có thể đem lại cho
chúng ư nghĩa và tầm quan
trọng, chỉ thứ hy vọng đó
mới đem lại can đảm để hành
động và kiên tŕ. Chắc chắn
chúng ta không thể “xây
dựng” Nước Thiên Chúa chỉ
bằng nỗ lực của chúng
ta—điều chúng ta xây dựng sẽ
luôn là vương quốc của con
người với tất cả những giới
hạn liên quan đến bản tính
con người. Nước Thiên Chúa
là một quà tặng, và chính v́
thế, nó thật lớn lao và đẹp
đẽ, và làm nên lời đáp trả
cho niềm hy vọng của chúng
ta. Và chúng ta không thể
—dùng lối diễn tả xưa— “đáng
được” Thiên đàng qua việc
làm của chúng ta. Thiên đàng
c̣n hơn là cái ǵ chúng ta
đáng được, cũng như việc
được yêu mến không bao giờ
là cái ǵ “đáng được”, nhưng
luôn là một quà tặng. Tuy
nhiên, dẫu khi chúng ta ư
thức đầy đủ rằng Thiên đàng
vượt quá điều chúng ta có
thể xứng đáng, th́ vẫn luôn
đúng là cách ứng xử của
chúng ta không phải là bàng
quan trước mặt Thiên Chúa và
v́ thế không là bàng quan
đối với diễn tiến lịch sử.
Chúng ta có thể mở rộng
chính chúng ta và thế giới,
và cho phép Thiên Chúa đi
vào: chúng ta có thể mở ḷng
cho chân lư, t́nh yêu và
điều ǵ thiện hảo. Đó là
điều các thánh đă làm, những
người trong tư cách là “cộng
sự viên của Thiên Chúa”, đă
đóng góp vào việc cứu độ
trần gian (x. 1 Cr
3,9; 1 Th 3,2). Chúng
ta có thể giải thoát cuộc
sống chúng ta và thế giới
khỏi độc tố và sự lây nhiễm
có thể huỷ diệt hiện tại và
tương lai. Chúng ta có thể
khám phá các nguồn mạch của
tạo vật và giữ chúng không
biến dạng, và theo cách thức
ấy, chúng ta có thể sử dụng
đúng đắn tạo vật, đến với
chúng ta như một quà tặng,
theo những đ̣i hỏi nội tại
và mục đích tối hậu của quà
tặng này. Điều đó đem lại ư
nghĩa, cho dù bề ngoài chúng
ta không thành đạt được ǵ
hay dường như bất lực khi
đối diện với các sức mạnh
thù địch. V́ thế một mặt,
hành động của chúng ta nảy
sinh niềm hy vọng cho chúng
ta và cho người khác; nhưng
đồng thời, đó là niềm hy
vọng lớn lao đặt nền tảng
trên các lời hứa của Thiên
Chúa vốn đem lại cho chúng
ta sự can đảm và hướng dẫn
hành động chúng ta trong
thời thuận tiện cũng như
không thuận tiện.
36. Giống như hành động, đau
khổ là một phần của cuộc
sống con người. Đau khổ một
phần xuất phát từ những giới
hạn của chúng ta, và một
phần từ khối lượng tội lỗi
đă tích luỹ suốt gịng lịch
sử, và ngày nay vẫn đang
tiếp tục lớn lên không
ngừng. Chắc chắn chúng ta
phải làm bất cứ điều ǵ
trong khả năng để giảm bớt
đau khổ: để hết sức tránh
đau khổ cho người vô tội; để
làm giảm nhẹ cơn đau đớn; để
giúp vượt thắng các đau khổ
tinh thần. Đó là những đ̣i
buộc của công b́nh và t́nh
yêu, và chúng được hàm chứa
trong các đ̣i hỏi nền tảng
của đời sống Kitô hữu và mọi
cuộc sống nhân bản đích
thực. các tiến bộ lớn lao đă
được thực hiện trong cuộc
chiến chống lại những đau
đớn thể lư; tuy vậy những
đau khổ của người vô tội và
những đớn đau tinh thần lại
gia tăng trong những thập
niên vừa qua. Quả thế, chúng
ta phải làm hết sức chúng ta
để vượt thắng đau khổ, nhưng
loại trừ hoàn toàn đau khổ
khỏi thế giới này là việc
vượt quá tầm tay chúng ta.
Đơn giản là v́ chúng ta
không thể loại bỏ sự giới
hạn của chúng ta và v́ không
ai trong chúng ta có khả
năng loại trừ quyền lực của
sự dữ, của tội lỗi, như
chúng ta thấy, vốn là nguồn
mạch thường hằng của đau
khổ. Chỉ ḿnh Thiên Chúa mới
có thể làm điều ấy: chỉ ḿnh
một Thiên Chúa đă tự ư đi
vào lịch sử khi làm người và
chịu đau khổ trong lịch sử.
Chúng ta biết rằng vị Thiên
Chúa ấy hiện hữu, và v́ thế
chúng ta biết rằng quyền
năng “xoá bỏ tội trần gian”
(Ga 1,29) đang hiện hữu
trong thế giới. Nhờ đức tin
vào sự hiện diện của quyền
năng ấy, hy vọng về một thế
giới được chữa lành đă nổi
lên trong lịch sử. Tuy
nhiên, đó là hy vọng—chưa
được hoàn thành; hy vọng đem
lại cho chúng ta sự can đảm
để đặt ḿnh vào phía sự
thiện dù sống trong những
hoàn cảnh dường như vô vọng,
với niềm xác tín rằng, bao
lâu gịng lịch sử bên ngoài
được đề cập đến, quyền lực
tội lỗi vẫn tiếp tục hiện
diện cách kinh hoàng.
37.
Chúng ta hăy trở lại đề tài
của ḿnh. Ta có thể giới hạn
đau khổ, chiến đấu chống lại
nó, nhưng không thể loại trừ
nó. Chính khi chúng ta cố
gắng tránh khổ đau bằng cách
rút lui khỏi những ǵ có thể
gây thương tổn, khi ta không
muốn phí sức hoặc tránh nỗi
đau trong việc đeo đuổi sự
thật, t́nh yêu, và điều
thiện, th́ lúc đó chúng ta
đă để ḿnh trôi giạt vào
cuộc sống trống rỗng, nơi đó
có thể hầu như không có đau
đớn, nhưng cái cảm nghiệm
tối tăm của vô nghĩa và bị
bỏ rơi c̣n lớn hơn bao giờ
hết. Không phải là bỏ ra
ngoài hoặc trốn tránh khỏi
sự khổ đau là chúng ta được
chữa lành, nhưng chính là do
khả năng của chúng ta chấp
nhận nó, trưởng thành với nó
và t́m ra ư nghĩa qua việc
kết hợp với Chúa Kitô, Đấng
đă chịu thương khó với t́nh
yêu vô biên. Trong ư nghĩa
này, tôi muốn trích một đoạn
từ lá thư của vị tử đạo Việt
Nam, Thánh Phaolô Lê Bảo
Tịnh, († 1857) trong đó ngài
diễn đạt sự biến hóa đau khổ
qua quyền năng hy vọng, phát
sinh từ đức tin như sau:
“Tôi, Phaolô, bị gông cùm v́
danh Chúa Kitô, ước mong kể
lại cho các con những thử
thách mà cha chịu hằng ngày,
để nhờ đó các con có thể
bùng lên ngọn lửa yêu mến
Chúa và hợp với cha ngợi
khen Chúa, v́ lượng từ bi
Chúa hải hà muôn đời (Tv
136 [135]). Nhà tù ở đây
thực sự là h́nh ảnh Hỏa Ngục
muôn đời: thêm vào bên cạnh
những đ̣n tra tấn dă man gồm
đủ mọi cách – gông cùm,
xiềng xích, đe dọa –là thù
hận, trả thù, tai ương, thô
bạo tục tằn, căi vă, hành
động độc ác, chửi thề, cũng
như những nỗi âu lo và than
khóc. Nhưng chính Chúa là
Đấng đă giải thoát 3 trẻ nhỏ
khỏi ḷ lửa hăi hùng, đă ở
với cha luôn luôn; Ngài đă
giải thoát cha khỏi những
khốn cùng này và làm cho
chúng nên dịu ngọt, v́ ḷng
từ bi Chúa muôn đời. Những
gian truân này thường làm
kinh khiếp nhiều người khác,
thế nhưng với cha, nhờ ơn
Chúa, cha tràn đầy niềm vui
và phúc lạc, bởi v́ cha
không ở một ḿnh – Đức Kitô
ở với cha... Làm sao cha có
thể chịu được cái cảnh mỗi
ngày nh́n thấy các vua chúa,
quan quyền, và những tay sai
của họ phạm thượng tới thánh
danh, Ôi lậy Chúa, Người là
Đấng ngự ngai ṭa trên các
thiên thần Cherubim và
Seraphim? (x. Tv 80:1
[79:2]). Chúa hăy xem đây,
những kẻ ngoại đạo đă đang
chà đạp Thánh Giá Chúa dưới
chân! C̣n đâu là vinh quang
Chúa? Khi con nh́n thấy tất
cả những sự này, con muốn
với tất cả t́nh yêu cháy
bỏng của con cho Chúa, ước
ao tay chân con bị chia ra
thành mảnh, chết làm chứng
cho t́nh yêu Chúa. Lạy Chúa,
xin hăy tỏ quyền năng Chúa,
cứu con, nâng đỡ con, hầu
trong sự yếu mềm của con,
quyền năng Chúa sẽ được sáng
soi và được vinh hiển trước
mặt các dân nước... Anh em
chủng sinh thân mến, khi các
con nghe biết tất cả những
sự việc này, các con hăy cám
tạ Thiên Chúa không hết lời
trong niềm vui, v́ từ Chúa
mọi điều tốt sẽ nảy sinh;
các con hăy chúc tụng Chúa
với cha, v́ ḷng nhân từ
Chúa vô bờ bến... Cha viết
ra những ḍng chữ này cho
các con ngơ hầu đức tin của
các con và của cha được hiệp
nhất. Giữa phong ba băo táp,
cha bỏ neo con thuyền của
cha vào ngai Thiên Chúa,
chiếc neo đó là hy vọng sống
động trong trái tim cha.”
28 Đây là một lá thư
viết từ “Hỏa Ngục”. Nó phơi
bầy trắng trợn tất cả những
kinh hoàng của trại tù tập
trung, nơi mà những vết
thương gây ra bởi những bạo
chúa trên những nạn nhân của
chúng được cộng thêm với sự
bùng nổ của tội ác trong
chính cả những nạn nhân, đến
nỗi đến lượt họ lại trở
thành những khí cụ cho sự
độc ác của những người hành
hạ họ. Đây chính là lá thư
viết từ Hỏa Ngục, nhưng nó
cũng nói lên sự thật trong
đoạn Thánh Vịnh như sau:
“Con có lên trời, Chúa đang
ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn
gặp thấy Ngài… Con tự nhủ:
‘Ước ǵ bóng tối bao phủ tôi
và ánh sáng quanh tôi thành
đêm tối!’ Nhưng đối với
Ngài, tối tăm chẳng có chi
mù mịt, và đêm đen sáng tỏ
như ban ngày, bóng tối và
ánh sáng cũng như nhau” (Tv
139 [138]:8-12; và x. Tv
23 [22]:4). Đức Kitô đă
xuống “Hỏa Ngục” và v́ thế
gần gũi với những ai bị ném
vào trong đó, khi Ngài biến
đổi sự tối tăm của họ thành
ánh sáng. Sự đau khổ và hành
hạ vẫn c̣n thật khủng khiếp
và dĩ nhiên là không thể
chịu nổi. Thế nhưng, ánh sao
của niềm hy vọng đă vươn lên
– chiếc neo của trái tim đạt
tới chính ngai của Thiên
Chúa. Thay v́ sự dữ hành hạ
trong thân xác con người,
th́ ánh sáng tỏa chiếu vinh
quang: khổ đau – không ngừng
là khổ đau – nhưng bất chấp
mọi sự đang trở nên bài tụng
ca ngợi khen Chúa.
38. Mức độ đích thực của
nhân bản được xác định cách
cơ bản trong mối tương quan
với đau khổ và người đau
khổ. Điều đó có giá trị cả
đối với cá nhân lẫn xă hội.
Một xă hội không thể đón
nhận các thành viên đau khổ
và không thể giúp chia sẻ
đau khổ của họ và mang lấy
nó vào trong tâm hồn qua
thái độ “đồng cảm” là một xă
hội tàn bạo và vô nhân đạo.
Tuy nhiên xă hội không thể
đón nhận các thành viên đau
khổ và nâng đỡ họ trong thử
thách trừ phi các cá nhân có
khả năng tự ḿnh làm điều
ấy; hơn nữa, cá nhân không
thể đón nhận đau khổ của
nhau trừ phi chính cá nhân
ấy có khả năng t́m thấy ư
nghĩa trong đau khổ, một con
đường thanh luyện và tăng
trưởng trong sự trưởng
thành, một hành tŕnh của hy
vọng. Quả thế, chấp nhận
“người khác” đang đau khổ,
có nghĩa là tôi mang lấy đau
khổ của người ấy như thể nó
trở thành là của tôi. Bởi v́
bây giờ nó trở thành một đau
khổ được chia sớt, trong đó
có sự hiện diện của một
người khác, đau khổ ấy được
hiểu thấu nhờ ánh sáng của
t́nh yêu. Tiếng La-tinh
con-solatio, “an ủi”, diễn
tả điều ấy cách tuyệt hảo.
Nó gợi lên sự hiện diện với
người khác trong sự cô đơn
của họ, hầu nó không c̣n là
sự cô đơn nữa. Hơn nữa, khả
năng chấp nhận đau khổ v́ sự
thiện, chân lư và công b́nh
là một tiêu chuẩn cốt yếu
của tính nhân văn, bởi v́
nếu rốt cuộc hạnh phúc và an
toàn của bản thân tôi quan
trọng hơn chân lư và công
b́nh, th́ quyền lực của kẻ
mạnh hơn thắng thế, và rồi
bạo lực và gian dối ngự trị.
Hoặc chân lư và công b́nh
phải đứng trên sự tiện nghi
và hạnh phúc thể lư, hoặc
cuộc sống tôi trở thành một
sự dối trá. Cuối cùng, tiếng
“xin vâng” với t́nh yêu cũng
là nguồn mạch của đau khổ,
bởi v́ t́nh yêu luôn đ̣i
truất hữu cái “Tôi”, qua đó
tôi để ḿnh bị cắt tỉa và bị
thương tích. T́nh yêu không
thể hiện hữu nếu không từ
khước chính ḿnh, một sự từ
khước đau đớn, bằng không nó
sẽ trở thành ích kỷ và v́
thế không c̣n là t́nh yêu
nữa.
39. Đau khổ cùng với kẻ khác
và cho những kẻ khác; đau
khổ v́ sự thật và công lư;
đau khổ v́ t́nh yêu và để
trở nên một người biết yêu
thương thực sự - đó là những
yếu tố căn bản của nhân
loại, và loại bỏ những yếu
tố này sẽ hủy diệt chính con
người. Tuy nhiên, một loạt
câu hỏi lại được nêu ra:
chúng ta có khả năng này
không? Người ta có quan
trọng đến mức tôi phải đâm
ra là người chịu đau khổ v́
họ? Đối với tôi sự thật có
đáng để đau khổ v́ nó là có
giá trị? Lời hứa của t́nh
yêu có cao cả đến mức biện
minh được việc cho đi chính
tôi? Trong lịch sử của nhân
loại, chính đức tin có công
đặc biệt trong việc đưa ra
từ bên trong con người một
khả năng mới và sâu xa dám
chấp nhận những h́nh thái
đau khổ có tính chất quyết
định đối với tính nhân bản
của con người. Đức tin Kitô
đă cho chúng ta thấy rằng sự
thật, công lư và yêu thương
không chỉ đơn thuần là những
lư tưởng, nhưng là những
thực tại đáng giá to lớn.
Đức tin Kitô cho thấy Thiên
Chúa – hiện thân của Sự Thật
và T́nh Yêu – đă muốn chịu
đau khổ v́ chúng ta và với
chúng ta. Thánh Bernard
thành Clairvaux đă đưa ra
câu nói tuyệt vời này:
Impassibilis est Deus, sed
non incompassibilis29-
Thiên Chúa không thể đau
khổ, nhưng Ngài có thể
đau khổ với. Con người
đáng giá đến mức chính Thiên
Chúa đă trở thành phàm nhân
để đau khổ với con
người trong một cách thế rất
thật – trong thân xác và máu
– như đă được tŕnh bày cho
chúng ta thấy trong tŕnh
thuật Thương Khó của Chúa
Giêsu. Thành ra, trong mọi
đau khổ nhân sinh chúng ta
được liên kết với Đấng chịu
và gánh lấy đau khổ đó
vớichúng ta; nên
con-solatio hiện diện
nơi tất cả đau khổ, như lời
ủi an từ ḷng yêu thương lân
tuất của Chúa - và v́ thế
ngôi sao hy vọng vươn lên.
Chắc chắn trong nhiều đau
khổ và thử thách đa dạng của
chúng ta, chúng ta cũng luôn
cần đến những hy vọng lớn
nhỏ - một cuộc thăm viếng
thân t́nh, sự chữa lành
những vết thương trong
ngoài, một quyết tâm thuận
lợi giải quyết một cuộc
khủng hoảng, và vân vân.
Trong những thử thách ít
nghiêm trọng, những h́nh
thái hy vọng này cũng có thể
là đủ cho chúng ta. Nhưng
trong những thử thách thực
sự cam go, khi tôi phải đưa
ra một quyết định chung cuộc
để đặt sự thật trước phúc
lợi, sự nghiệp và của cải
của chính ḿnh, tôi cần đến
sự xác tín của niềm hy vọng
thực sự và to lớn mà chúng
ta đă đề cập nơi đây. Về
điểm này, chúng ta cần đến
những chứng nhân - những vị
tử đạo - những người đă cho
đi chính ḿnh toàn bộ, để
ngày qua ngày chỉ ra cho
chúng ta thấy đâu là chính
lộ. Chúng ta cần đến họ nếu
chúng ta ưa chuộng điều
thiện hơn sự thoải mái, ngay
cả trong những lựa chọn nhỏ
nhặt mà chúng ta đối diện
hàng ngày – khi biết rằng đó
là cách để chúng ta sống đời
ḿnh cho viên măn. Chúng ta
hăy lặp lại lần nữa: khả
năng chịu đau khổ v́ sự thật
là thước đo tính nhân bản.
Nhưng khả năng chịu đựng này
tùy thuộc vào h́nh thái và
quy mô của niềm hy vọng mà
chúng ta mang và ấp ủ trong
ḷng. Các thánh đă có thể
trải qua một cuộc lữ hành
trân thế cao đẹp trong cách
thức mà Chúa Kitô đă thực
thi trước các ngài, v́ họ
tràn trề niềm hy vọng lớn
lao.
40. Tôi muốn thêm vào nơi
đây một nhận xét ngắn gọn
khác với những liên hệ trong
đời sống hàng ngày. Trước
đây thường có một h́nh thức
đạo đức – có lẽ ít được thực
hành ngày nay nhưng đă rất
phổ biến trước đây không lâu
– trong đó bao gồm ư tưởng
“dâng lên” những lao nhọc
nhỏ hàng ngày thường xuyên
quấy nhiễu chúng ta như
“những cú thọc mạnh” phiền
toái, qua đó ban cho chúng
một ư nghĩa. Dĩ nhiên, đă có
những phóng đại và những lạm
dụng không lành mạnh h́nh
thức đạo đức này, nhưng
chúng ta cần tự hỏi ḿnh
liệu tối hậu điều này có
chứa đựng những ǵ thiết yếu
và có ơn ích không. Dâng lên
có nghĩa là ǵ? Những ai
thực hành h́nh thức đạo đức
này đều tin là họ có thể
đóng góp những phiền nhiễu
nhỏ này vào cuộc
“đồng-thương khó” (nguyên
văn “com-passion”) vĩ đại
của Chúa Kitô để cách nào đó
họ trở nên một phần của kho
tàng trắc ẩn (nguyên văn
compassion) rất cần của nhân
loại. Qua đó, ngay cả những
bất tiện nhỏ nhặt trong cuộc
sống hàng ngày cũng có ư
nghĩa và đóng góp cho nhiệm
cục của sự thiện và t́nh yêu
nhân loại. Có lẽ chúng ta
nên xem lại liệu chính chúng
ta có nên làm sống lại thực
hành này hay không. |